Vây Nguỵ cứu Triệu là gì? Kế thứ 2 trong 36 kế: Tôn Tẫn, trận Quế Lăng và cách đánh vào chỗ trống
Mục lục
Năm 354 trước Công nguyên, nước Nguỵ đem quân vây Hàm Đan, kinh đô nước Triệu. Triệu cầu cứu nước Tề. Tướng Tề là Điền Kỵ định kéo quân thẳng tới Hàm Đan để giải vây, nhưng quân sư Tôn Tẫn can lại: đừng tới Hàm Đan, hãy đánh vào Đại Lương, kinh đô của chính nước Nguỵ. Vây Nguỵ cứu Triệu, kế thứ 2 trong 36 kế, lấy tên từ trận này.
Kế thuộc nhóm Thắng chiến kế (kế 1 đến 6), các kế dùng khi mình đang ở thế mạnh. Ý chính rất ngắn: muốn gỡ áp lực ở một chỗ, đừng lao vào chỗ đó, hãy đánh vào nơi đối phương buộc phải quay về giữ. Xem vị trí của kế trong danh sách đầy đủ 36 kế.
Nguyên văn Vây Nguỵ cứu Triệu
共敵不如分敵,敵陽不如敵陰。
Cộng địch bất như phân địch, địch dương bất như địch âm.
| Câu | Nghĩa |
|---|---|
| Cộng địch bất như phân địch | Đánh kẻ địch đang dồn sức một chỗ không bằng khiến nó phải chia sức ra |
| Địch dương bất như địch âm | Đánh vào chỗ địch phô ra không bằng đánh vào chỗ địch để trống, chỗ nó không ngờ tới |
“Dương” là phần lộ ra ngoài: đạo quân tinh nhuệ đang vây thành. “Âm” là phần khuất phía sau: hậu phương, kinh đô, đường tiếp tế. Kế này chọn đánh vào phần âm.
Lời bàn: trị binh như trị thuỷ
Án ngữ (lời bàn) của sách so việc dùng binh với việc trị nước lũ. Gặp dòng nước mạnh thì tránh mũi của nó, khơi cho nó chảy đi nơi khác; gặp chỗ yếu thì lấp vào, như đắp đê. Quân địch đang hăng ở Hàm Đan là dòng nước mạnh. Kinh đô bỏ trống ở phía sau là chỗ yếu.
Án ngữ dẫn tiếp lời Tôn Tẫn nói với Điền Kỵ, chép trong Sử ký. Đại ý: muốn gỡ một mối rối thì không nắm chặt tay mà giật; muốn can hai người đánh nhau thì không tự xông vào đánh. Cứ nhắm đúng chỗ hiểm, đánh vào chỗ trống, để chính thế trận chặn bên kia lại, thì vòng vây tự khắc được gỡ.
Tôn Tẫn, Bàng Quyên và trận Quế Lăng
Câu chuyện bắt đầu từ hai người bạn học. Theo Sử ký, Tôn Tẫn và Bàng Quyên cùng học binh pháp. Bàng Quyên sang làm tướng nước Nguỵ, biết tài mình không bằng bạn nên ngầm gọi Tôn Tẫn tới, rồi tìm cớ khép tội, chặt hai chân và thích chữ vào mặt ông. Tôn Tẫn trốn sang Tề, được Điền Kỵ trọng dụng. Khi vua Tề muốn phong ông làm tướng đi cứu Triệu, ông từ chối vì là người đã chịu hình phạt. Vua bèn cho Điền Kỵ làm tướng, Tôn Tẫn làm quân sư, ngồi trong xe có mui để bày mưu.
Lý lẽ Tôn Tẫn đưa ra rất rõ. Nguỵ và Triệu đang đánh nhau, quân nhẹ, lính giỏi của Nguỵ đều dồn ra ngoài, trong nước chỉ còn người già, người yếu. Nếu quân Tề tiến nhanh về Đại Lương, chiếm các ngả đường, đánh vào chỗ trống, thì Nguỵ ắt phải bỏ Triệu để về cứu nhà. Như vậy một nước đi vừa gỡ được vòng vây Triệu, vừa đánh được quân Nguỵ khi chúng đã mỏi mệt.
Điền Kỵ nghe theo. Sử ký chép quân Nguỵ quả nhiên rời Hàm Đan, giao chiến với quân Tề ở Quế Lăng và bị đánh tan. Đó là năm 353 trước Công nguyên.
Sử sách kể không hoàn toàn giống nhau
Phiên bản quen thuộc ở trên lấy từ Sử ký. Đọc thêm hai nguồn khác sẽ thấy câu chuyện có nhiều lớp hơn.
- Hàm Đan thực ra vẫn mất. Tư trị thông giám chép rằng tháng Mười năm đó Hàm Đan đã hàng Nguỵ, quân Nguỵ rút về và bị đánh bại ở Quế Lăng trên đường về. Hai năm sau, năm 351 trước Công nguyên, Nguỵ mới trả Hàm Đan lại cho Triệu. Nghĩa là “cứu Triệu” không phải là giải vây kịp thời, mà là đánh gãy sức mạnh của Nguỵ để về sau Triệu lấy lại được kinh đô.
- Tôn Tẫn cố tình thua trước. Năm 1972, ở núi Ngân Tước (Sơn Đông) người ta tìm thấy thẻ tre chép Tôn Tẫn binh pháp. Thiên đầu, Cầm Bàng Quyên (Bắt Bàng Quyên), kể rằng Tôn Tẫn cố ý đem quân đánh thành Bình Lăng, một thành khó đánh, để thua và tỏ ra không biết dùng binh. Sau đó ông cho xe nhẹ chạy về sát ngoại thành Đại Lương để chọc giận Bàng Quyên, lại chia quân ra cho thấy quân mình ít. Bàng Quyên bỏ cả xe lương đồ nặng, đi gấp ngày đêm, rồi bị đánh ở Quế Lăng và bị bắt sống.
- Bàng Quyên chết ở đâu? Sử ký chép rằng mười ba năm sau trận Quế Lăng, ở trận Mã Lăng, Bàng Quyên mới bị Tôn Tẫn dụ vào chỗ phục kích và tự vẫn. Thẻ tre thì nói ông đã bị bắt ở Quế Lăng. Hai ghi chép này đến nay giới nghiên cứu vẫn còn bàn.
Thú vị là trận Mã Lăng cũng dùng lại đúng nước đi cũ: nước Nguỵ đánh Hàn, Hàn cầu cứu Tề, quân Tề lại kéo thẳng về Đại Lương, buộc Bàng Quyên phải bỏ Hàn quay về.
Vây Nguỵ cứu Triệu khác Dương Đông kích Tây thế nào?
| Vây Nguỵ cứu Triệu (kế 2) | Dương Đông kích Tây (kế 6) | |
|---|---|---|
| Đòn đánh | Thật: đánh vào nơi địch buộc phải giữ | Giả một hướng, thật ở hướng khác |
| Mục đích | Kéo địch rời khỏi mục tiêu nó đang đánh | Đánh vào chỗ địch vừa bỏ trống vì bị lừa |
| Điều kiện | Chỗ mình đánh phải là chỗ địch không thể bỏ | Địch phải rối, không tự chủ được |
Bài học hôm nay: đừng chỉ chạy theo chỗ đang nóng
Bỏ đi phần chiến trận, cốt lõi của kế là một cách nhìn vấn đề: áp lực xuất hiện ở một chỗ, nhưng chỗ cần tác động có thể ở nơi khác. Điền Kỵ nhìn thấy Hàm Đan đang bị vây. Tôn Tẫn nhìn thấy cái gì khiến quân Nguỵ có thể đứng vây Hàm Đan.
- Cạnh tranh trong kinh doanh. Khi một đối thủ lớn tung chương trình giảm giá đánh vào mặt hàng chủ lực của mình, lao vào cuộc chiến giá đúng chỗ họ mạnh nhất thường là thua. Câu hỏi đáng đặt ra là: họ đang để trống chỗ nào? Có thể là dịch vụ sau bán, có thể là nhóm khách nhỏ mà họ không thèm phục vụ.
- Dàn xếp xung đột. Lời Tôn Tẫn “can người đánh nhau thì không xông vào đánh” đúng với cả chuyện ở công ty. Hai bộ phận cãi nhau về một việc cụ thể thì thường phía sau là chuyện chỉ tiêu, quyền lợi. Gỡ được cái đó, cuộc cãi vã tự lắng.
- Quản lý công việc. Một đội cứ mãi “chữa cháy” lỗi ở khâu cuối là đang đánh vào chỗ dương. Đánh vào chỗ âm là tìm ra khâu gây lỗi ở phía trước.
Phần sử sách kể khác nhau cũng cho một bài học: kế này có giá. Hàm Đan vẫn mất, và Triệu phải chờ hai năm. Đánh vào chỗ khác thì chỗ đang nóng vẫn phải chịu đựng thêm một thời gian. Dùng kế này cần tính trước mình chịu được tổn thất đó bao lâu.
Hỏi đáp
Vây Nguỵ cứu Triệu là kế thứ mấy trong 36 kế?
Kế thứ 2, thuộc nhóm Thắng chiến kế (kế 1 đến 6).
Vây Nguỵ cứu Triệu nghĩa là gì?
Nghĩa đen là “vây nước Nguỵ để cứu nước Triệu”. Nghĩa của kế: không đối đầu trực diện nơi địch đang mạnh, mà đánh vào chỗ hiểm yếu, bỏ trống của địch để buộc nó phải rút về.
Tôn Tẫn có phải là Tôn Vũ, tác giả Tôn Tử binh pháp không?
Không. Tôn Vũ sống vào thời Xuân Thu. Tôn Tẫn sống vào thời Chiến Quốc, theo Sử ký là hậu duệ của Tôn Vũ, khoảng hơn trăm năm sau. Tôn Tẫn có sách binh pháp riêng, thất truyền lâu ngày và chỉ được tìm lại năm 1972.
Trận Quế Lăng diễn ra năm nào?
Năm 353 trước Công nguyên, theo niên biểu của Tư trị thông giám. Quân Nguỵ bắt đầu vây Hàm Đan từ năm 354 trước Công nguyên.
Nguồn tham khảo
- Tam thập lục kế, kế 2 Vây Nguỵ cứu Triệu: nguyên văn và án ngữ (bản Wikisource tiếng Trung).
- Tư Mã Thiên, Sử ký, quyển 65, Tôn Tử Ngô Khởi liệt truyện.
- Tư Mã Quang, Tư trị thông giám, quyển 2 (năm 354, 353 và 351 trước Công nguyên).
- Tôn Tẫn binh pháp, thiên Cầm Bàng Quyên (thẻ tre Ngân Tước Sơn).